Thứ Hai, 13 tháng 5, 2013

Việt Nam – Cuộc đấu tranh vì tự do

11.5.2013
Lê Anh Hùngdịch


Ở Việt Nam, tự do tín ngưỡng được hiến pháp bảo hộ về mặt nguyên tắc. Tuy nhiên, những người theo những tôn giáo mà chính quyền không chấp nhận lại phải đối mặt với tình trạng bị truy bức. Một trong những tôn giáo đó là đạo Tin Lành. Điều này khiến gần như tất cả các đạo hữu Tin Lành đều phải vận hành các hoạt động phụng sự và nhà thờ ở Việt Nammột cách bí mật. Lần đầu tiên tôi và Steve dính líu đến hoạt động phụng sự ở Việt Namlà vào năm 2006, sau khi Steve gặp một đôi người Mỹ đã nghỉ hưu và chuyển tới Sài Gòn để hỗ trợ nhà thờ bí mật. Những người bạn của chúng tôi cũng như những người phục vụ với họ bị truy bức – một số thậm chí còn bị bỏ tù nhiều lần – vì thực hành Thiên Chúa giáo.
Khi Steve và tôi lập kế hoạch cho chuyến đi, chúng tôi muốn trải nghiệm một thời gian ý nghĩa ở Việt Nam. Chúng tôi dự định thăm bạn bè và các hoạt động phụng sự của họ ở Sài Gòn. Chúng tôi cũng hy vọng sẽ thiết lập các mối quan hệ mới trong nhà thờ bí mật. Ngoài ra, chúng tôi còn muốn khám phá Việt Namvà tìm hiểu thêm về lịch sử, con người và văn hoá của mảnh đất này. Mặc dù vẫn gặp một vài thử thách dọc đường song chúng tôi rời Việt Nam ngày 28.4 với cảm giác là mình đã hoàn thành từng mục tiêu đã đề ra.
Trong suốt cuộc hành trình xuyên Việt, chúng tôi đã kinh qua những khu vực, những vùng khí hậu và những nhóm người hết sức khác biệt. Chúng tôi di chuyển chậm từ Bắc chí Nam, dành thời gian ở Hà Nội, Hạ Long, Sapa, Đà Nẵng, Nha Trang và Sài Gòn. Chúng tôi di chuyển bằng máy bay, bằng những đoàn tàu cũ kỹ, rồi một loạt những thuyền, xe buýt và xe du lịch. Chúng tôi leo núi, dạo trên những con phố tấp nập của những thành phố với những bức tường cổ, thăm các chiến trường xưa, bơi trên các bãi biễn, đạp xích lô qua khu phố Pháp, và bí mật thăm các hoạt động phụng sự trên một chiếc xe máy thuê. Chúng tôi thậm chí còn dành một ngày đi thăm địa đạo Củ Chi mà Việt Cộng từng sử dụng trong cuộc “kháng chiến chống Mỹ” như cách gọi phổ biến của người Việt Nam.
Chúng tôi khởi đầu chuyến đi ở Hà Nội. Hà Nội là một sự pha trộn giữa vẻ quyến rũ khác lạ của Châu Á cổ xưa, với bộ mặt đang phát triển của một Châu Á đương đại, cùng những vết tích của ảnh hưởng từ người Pháp và Công giáo. Năm 2010, Hà Nội tròn 1.000 năm tuổi. Khu phố cổ của nó vẫn còn đấy 36 tuyến phố chuyên doanh xưa kia, bao quanh ngôi thành cổ. Phố chuyên bán đồ sứ, phố chuyên bán cá, phố chuyên bán bạc, phố chuyên bán giày, v.v. Bên cạnh những cửa hàng mặt phố lâu đời, ở đây còn có hàng trăm người bán hàng trên vỉa hè với đủ mọi thứ trên đời, và những kẻ bán hàng rong đi dọc phố tìm cách để bạn mua hàng hoá hay dịch vụ của họ. Dân số Hà Nội khoảng 6 triệu người, phần lớn đi xe máy, và dường như tất cả họ đều đồng loạt đổ ra các tuyến phố hàng ngày.
Khi ở Hà Nội, chúng tôi giao lưu với một số nhà chuyên môn trẻ tuổi, họ thoải mái nêu quan điểm rằng chính phủ của họ không tốt cho dân. Để tìm cách tạo ra sự đồng cảm với họ, tôi cũng phàn nàn về chính phủ ở đất nước mình. Tuy nhiên, ngay khi những từ ngữ kia vuột ra khỏi miệng, tôi biết đó là một sự so sánh không công bằng. Chúng tôi cũng có cơ hội giao thiệp với với thế hệ già hơn, và chúng tôi luôn ngỡ ngàng trước thái độ đón tiếp nồng ấm mà họ dành cho mình. Mỹ từng đánh bom ác liệt Hà Nội, thủ đô của Bắc Việt, trong chiến tranh, song chúng tôi không hề gặp phải sự thù địch nào từ cả hai thế  hệ.
Từ Hà Nội, chúng tôi thực hiện chuyến đi tới Hạ Long. Vịnh Hạ Long là một kỳ quan tự nhiên đầy quyến rũ. Chúng tôi lắng nghe như thể bị thôi miên khi người hướng dẫn viên chia sẻ những câu chuyện về người Việt. Anh ta nói với chúng tôi là người Việt tin rằng tổ tiên của họ có khả năng đem lại vận may và bảo vệ gia đình. Thành ra hầu như mọi gia đình người Việt đều có một bàn thờ để thờ phượng hoặc tưởng nhớ tổ tiên của mình. Nhiều thương nhân bán hàng mã với đủ thứ quà như xe máy, ô tô, nhà cửa, quần áo và tiền. Những tờ giấy này được mua rồi đốt như một hình thức lễ tạ tổ tiên.
Chúng tôi cũng hiểu ra rằng nhiều người Việt không chỉ có một tín ngưỡng độc nhất. Thay vì thế, hệ thống đức tin của họ dường như là một sự pha trộn giữa định mệnh, vận may, Khổng giáo, Phật giáo, Đạo giáo và thần thoại. Đáng chú ý là ở chỗ, Công giáo vốn được du nhập bởi người Pháp, những người từng chinh phục và cai trị Việt Nam một cách hà khắc suốt gần 100 năm, lại được chính quyền thừa nhận. Chính quyền cùng lúc lại “dạy” rằng Jesus Christ là Chúa Trời của người Mỹ và, do vậy, người Việt không được phép theo Ngài. Dĩ nhiên, điều này lại khiến bạn tự hỏi là chính quyền nghĩ những người Công giáo Việt Namđang thờ ai?
Đập vào mắt chúng tôi còn là sự chênh lệch đáng chú ý về địa vị kinh tế - xã hội và quyền lợi của người dân bất chấp thực tế Việt Nam vẫn tự nhận là một nhà nước xã hội chủ nghĩa. Chiếc Rolls Royce màu đen trên lối vào của một ngôi nhà nằm kề bãi biển với đội ngũ bảo vệ riêng nhắc chúng tôi nhớ tới tác phẩm “Trại súc vật” của George Orwell, và kết cục cuối cùng của một chính quyền thối nát. Tất cả mọi người đều bình đẳng, song một số người lại bình đẳng hơn số khác. Chủ nghĩa tư bản thực sự có ảnh hưởng ở Việt Nam, song chỉ những ai nắm quyền lực mới gặt hái được thành quả từ đó.
Chúng tôi khám phá những ngọn núi và vùng thôn quê xinh đẹp ở Sapa, nơi mà một số bộ tộc bản địa gọi là đất tổ trong 1.000 năm. Ở Sapa, chúng tôi gặp một số nhóm sắc tộc thiểu số của Việt Nam. Trong số này chủ yếu là người Hmong đen, người ta gọi thế cơ bản là vì trang phục màu đen của họ. Họ sống đơn giản và canh tác trên một vùng đồi núi dốc. Tuy nhiên, với sự xuất hiện của du lịch, một số thành viên của các bộ tộc này đã khoác cho mình một bộ mặt mới như những người chuyên đi bán rong đồ trang sức và thổ cẩm làm bằng tay. 
Họ là những cư dân “bản địa” đích thực của vùng này, và rõ ràng họ coi tất cả những trò chính trị vô nghĩa vẫn diễn ra ở Việt Namsuốt 1.000 năm qua như thứ tạp âm nền. Người ta cứ đến xâm chiếm rồi lại bỏ đi; chính quyền cứ đến rồi lại đi. Người hướng dẫn viên cho chúng tôi hay nhiều người Hmong, dân tộc của anh ta, tin vào Jesus, song họ không có nhà thờ và không ai dạy họ về kinh thánh cả.
Trước khi chúng tôi rời Campuchia đến Việt Nam, một nhóm đông do North Coast Calvary Chapel dẫn đầu đã đến thị trấn Poipet (Campuchia) để phục vụ cùng tổ chức thiện nguyện Mercy Ministries Foundation. Cả nhóm đã khích lệ và tiếp sức cho chúng tôi theo rất nhiều cách. Hai thành viên của nhóm là người Việt, một từ Đà Nẵng và người còn lại đến từ Sài Gòn. Khi ở Việt Nam, chúng tôi có cơ hội dành nhiều thời gian hơn với những người đàn ông này cùng gia đình họ, và tìm hiểu về các hoạt động phụng sự của họ. Một trong hai người nguyên là kỹ sư dầu khí và vợ anh ta cựu giảng viên đại học. Những nhà chuyên môn trẻ tuổi này đã từ bỏ nghề nghiệp để phụng sự như những nhà truyền giáo chuyên nghiệp ở Việt Nam. Người còn lại từng 10 lần vô địch giải thể hình quốc gia. Anh cũng từ bỏ sở thích đó để phụng sự Chúa.
Những người đàn ông này hiện dẫn dắt một hoạt động phụng sự tthể thao đang trên đà phát triển, một tổ chức đã vươn tới hàng trăm thanh niên và người lớn không chỉ ở Việt Nam mà còn trên khắp một số quốc gia khép kín ở Đông Nam Á. Cách tiếp cận hoạt động phụng sự độc đáo này kết hợp việc huấn luyện nhiều môn thể thao với việc truyền thụ những chân lý của kinh thánh. Các thành viên của nhóm không chỉ tham gia tập luyện thể thao mà họ còn tham gia vào kinh cầu nguyện và nghiên cứu kinh thánh. Khi ở Đà Nẵng, chúng tôi đã tham dự một buổi tập và gặp một trong số các đội bóng. Khoảng một nửa số thành viên đội bóng đã tin vào Jesus.
Khi ở Sài Gòn, chúng tôi vẫn kịp đến thăm những người bạn thân đang hỗ trợ và chăm sóc hơn 500 trẻ em. Họ thuộc về nhiều nhà thờ bí mật của những giáo phái khác nhau, và họ đứng ra trợ giúp những trẻ em bị mồ côi, bị bỏ rơi hay bị lạm dụng thân thể. Họ đảm bảo rằng những đứa trẻ này được ăn mặc, được bố trí chỗ ở, được yêu thương, được giáo dục, và được nuôi dưỡng để hiểu tình yêu của Đức Chúa.
Chúng tôi cũng có cơ hội thăm một bà trông trẻ cùng một số trong số 20 đứa trẻ mà bạn bè của chúng tôi hỗ trợ. Bà năm nay đã 62 tuổi, vì thế bà đề nghị chúng tôi cầu Chúa nuôi lớn một bà mẹ trẻ hơn để tiếp tục công việc phụng sự và cầu Chúa ban cho bà sức mạnh và sức khoẻ cần thiết để nuôi dưỡng những đứa trẻ này.
Một hoạt động phụng sự khác mà những người bạn của chúng tôi tiến hành lại tập trung vào việc cứu giúp những đứa trẻ chưa ra đời bằng cách cung cấp cho các bà mẹ một giải pháp thay thế việc phá thai. Những người bạn của chúng tôi giải thích nguồn gốc của cuộc sống và dạy những bà mẹ này chân lý về những đứa trẻ chưa ra đời. Họ cung cấp cho các bà mẹ dịch vụ y tế, phòng ở và ăn uống miễn phí cho đến khi đứa bé ra đời. Nếu bà mẹ không muốn giữ đứa bé sau khi nó ra đời, những người bạn của chúng tôi sẽ tiếp nhận trách nhiệm với đứa bé. Chúng tôi có vinh dự được đến thăm một trong vài ngôi nhà dành cho các bé, mua kem và thăm vài trong số những đứa trẻ mà những người bạn của mình chăm sóc.
Vì lý do an ninh, chúng tôi không tiết lộ tên tuổi của những người phục vụ này. Nếu bạn mong muốn tìm hiểu thêm về bất cứ hoạt động phụng sự nào của họ, hãy liên hệ với chúng tôi. Đồng thời hãy cầu nguyện cho những nhu cầu thường xuyên về vật chất và tinh thần của họ.
Đối với người Mỹ, cuộc chiến tranh Việt Nam đã trôi qua. Đối với Việt Nam, cuộc chiến hãy còn đấy. Người dân của nó vẫn đang tham gia vào cuộc đấu tranh vì quyền tự do chính trị, kinh tế và tín ngưỡng. Đối với tôi, Việt Nam đã vĩnh viễn thay đổi từ những hình ảnh đen trắng trong ký ức tuổi trẻ của mình sang một đất nước của sắc màu sự sống mà ở đó đang rất, rất cần đến Đức Chúa./.


Nguồn: LIFTINGUPTHESAINTS/Defend the Defenders

5 nhận xét:

  1. Vâng, là người Việt Nam, tôi rất đồng ý với nhận định của tác giả. Người Việt Nam rất cần đến Đức Chúa Trời, rất cần đến Đấng Christ, Đấng Cứu Chuộc của muôn sắc dân trên địa cầu. Ngày nào người Việt Nam có Chúa trong lòng, ngày ấy người Việt Nam sẽ biết thương yêu nhau hơn, cảnh xâu xé nhau, cướp bóc, sát hại lẫn nhau sẽ không còn. Cũng không ai từ bên ngoài có thể đàn áp, xâu xé người Việt Nam, đất nước Việt Nam.

    Trả lờiXóa
  2. • Đại họa của Việt Nam là đại họa chung của mọi gia đình và mọi người Việt Nam. Sự sống còn của mọi gia đình và mọi người Việt Nam tùy thuộc vào nổ lực của toàn thể đồng bào Việt Nam. Tương lai cuộc sống của người Việt Nam như thế nào là quyết định của toàn dân Việt Nam. Việt Nam không tin ở cá nhân nào, không tin ở đảng phái nào.
    Dân tộc Việt Nam, đồng bào Việt Nam không ủy thác hiện tại, tương lai của Việt Nam vào một cường quốc đặc biệt nào. Kinh nghiệm đau thương của gần một trăm năm qua của nước Việt Nam, người Việt Nam đã quá đủ.
    Tuổi trẻ Việt Nam đang đứng dậy. Người Việt Nam, đồng bào Việt Nam yêu nước có bổn phận phải hổ trợ cho những người trẻ Việt Nam. Những ai không hổ trợ cho công cuộc giải phóng đất nước khỏi họa cộng sản, họa xâm lăng Trung cộng, người ấy không phải là người Việt Nam. Không ai ủy thác cuộc sống của mình vào tay người khác. Ủy thác cuộc sống của mình vào tay người khác là biểu hiện rõ rệt nhất của tinh thần nô lệ.
    Thiên niên kỹ mới cho một nước Việt Nam Mới với những thế hệ Việt Nam mới đầy tự tin vào khả năng quản trị, tổ chức đất nước của mình đang mở ra. Người Việt Nam, những thế hệ Việt Nam mới đang có đầy đủ những điều kiện cần thiết để đưa Việt Nam ra khỏi ách nô lệ của Trung cộng và tiến theo con đường tiến bộ mà toàn dân Việt Nam khao khát trong hơn ba phần tư thế kỷ qua.
    Việt Nam phải theo con đường tiến hóa chung của thế giới là quyết định dứt khoát vì không có sự lựa chọn nào khác tốt hơn cho người Việt Nam và dân tộc Việt Nam.

    Trả lờiXóa
  3. Người sông Tiền08:35 14 tháng 5, 2013

    Cám ơn bài dịch rất xuất sắc bạn Lê Anh Hùng. Mong bạn vượt qua khổ nạn này để đến bến bờ của tự do ở VN.

    Trả lờiXóa
  4. Nhận xét này đã bị quản trị viên blog xóa.

    Trả lờiXóa
  5. Nhận xét này đã bị quản trị viên blog xóa.

    Trả lờiXóa